Aa

Trợ cấp, kích thích thị trường tín dụng xanh tại Việt Nam

Chủ Nhật, 26/11/2023 - 05:59

Làm thế nào để đảm bảo các trợ cấp và hỗ trợ đạt được ngưỡng lãi suất hấp dẫn, kết hợp với quy mô đủ lớn để kích thích thị trường tín dụng xanh tại Việt Nam?

Từ kinh nghiệm của các thị trường nổi bật như Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Indonesia về chính sách trợ cấp và khuyến khích tín dụng xanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh, chúng ra có thể rút ra nhiều bài học quan trọng.

Để tận dụng tiềm năng của thị trường, tận dụng tiềm năng của nó, các can thiệp chính sách chiến lược là bắt buộc. (Ảnh minh họa)

Trước hết, chúng ta biết Huang (2019) đã phát triển một loạt mô hình trò chơi để giải quyết tác động của các khoản vay xanh và trợ cấp của chính phủ đối với hoạt động đổi mới xanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu này đã khám phá một ngưỡng lãi suất mà tại ngưỡng này các doanh nghiệp sẵn sàng vay xanh, cùng với đó, có một ngưỡng quy mô cho vay xanh tại đó khoản vay thực sự cải thiện được chất lượng môi trường. Từ đó, tạo ra một hàm ý chính sách quan trọng: các trợ cấp của chính phủ cần đảm bảo một mức lãi vay đủ hấp dẫn với quy mô đủ lớn để kích thích thị trường tín dụng xanh và đảm bảo các hoạt động tín dụng xanh đạt được các mục tiêu bảo vệ môi trường và duy trì tăng trưởng.

Từ các kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực, chúng tôi đề xuất ba gợi ý chính sách thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam bao gồm (1) xây dựng các ưu đãi chính sách giúp làm giảm rào cản gia nhập; (2) tăng cường việc nghiên cứu và đánh giá về rủi ro khí hậu và phát triển hướng dẫn và quy định cụ thể; và (3) thúc đẩy các giải pháp để cải thiện cấu trúc của thị trường.

Để thúc đẩy tín dụng xanh phải cải thiện được mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và rủi ro của các dự án xanh - đòi hỏi việc xây dựng các ưu đãi chính sách ưu đãi nhằm giảm rào cản gia nhập.

Trong trường hợp trái phiếu xanh, cần hỗ trợ các nhà phát hành lần đầu bằng cách trợ cấp chi phí phát hành, theo mô hình đã được áp dụng ở Singapore và Nhật Bản. Đồng thời, tăng cường chất lượng và sự hấp dẫn của trái phiếu xanh được đề xuất bằng cách khuyến khích các tổ chức phát hành trái phiếu trang trải chi phí kiểm toán của bên thứ ba, theo vào chính sách như ở Malaysia và Singapore.

Để đảm bảo tác động tích cực đối với mục tiêu giảm phát thải, việc hạn chế các tiêu chí đủ điều kiện cho các dự án trong nước và/hoặc yêu cầu tái cấp vốn cũng được đề xuất. Trong trường hợp cho vay xanh, việc lồng ghép chính sách tín dụng xanh vào chính sách quản lý môi trường cùng việc cung cấp thông tin dữ liệu môi trường đầy đủ và chính xác đang trở nên ngày càng quan trọng.

Hơn nữa, tăng cường việc nghiên cứu và đánh giá về rủi ro khí hậu cùng việc phát triển hướng dẫn và quy định là quan trọng. Những nỗ lực này khuyến khích các tổ chức tài chính tích hợp các vấn đề môi trường vào các hoạt động cho vay, đầu tư và quản lý rủi ro. Điều này bao gồm cả việc đánh giá và quản lý các rủi ro môi trường liên quan đến danh mục đầu tư.

Cuối cùng, việc thúc đẩy các giải pháp để cải thiện cấu trúc của thị trường không chỉ giúp tăng tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng tài chính xanh, mà còn tạo ra liên kết mạnh mẽ giữa thị trường trái phiếu xanh nội địa và các khu vực quốc tế khác. Bằng cách này, Việt Nam không chỉ thu hút sự quan tâm từ các nhà đầu tư quốc tế mà còn tăng cường mối quan hệ hợp tác và trao đổi kinh nghiệm với các thị trường tài chính xanh trên toàn cầu. Sự kết nối này không chỉ tạo điều kiện cho việc chia sẻ kiến thức và công nghệ mà còn tạo ra cơ hội mới cho sự đổi mới và phát triển trong lĩnh vực tài chính xanh, hỗ trợ Việt Nam tiến xa hơn trên con đường chuyển đổi sang một nền kinh tế xanh và bền vững.

Liên kết giữa thị trường trái phiếu xanh nội địa và các khu vực quốc tế khác sẽ hỗ trợ cho thu hút, đổi mới và phát triển tài chính xanh. (Ảnh minh họa)

Tóm lại, tầm quan trọng của tín dụng xanh trong việc thúc đẩy Việt Nam hướng tới một nền kinh tế bền vững và thân thiện với môi trường là không thể phủ nhận. Để tận dụng tiềm năng của nó, các can thiệp chính sách chiến lược là bắt buộc. Việc đảm bảo các trợ cấp và hỗ trợ đạt được ngưỡng lãi suất hấp dẫn, kết hợp với quy mô đủ lớn để kích thích thị trường tín dụng xanh là rất quan trọng.

Các chính sách thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh của các quốc gia châu Á bao gồm các chính sách như điều hướng cho vay xanh, tăng cường cung cấp thông tin, cơ chế bảo lãnh tín dụng xanh, giảm thuế và trợ cấp chi phí phát hành.

Bên cạnh đó, cần tăng cường nghiên cứu và đánh giá về rủi ro khí hậu và xây dựng các hướng dẫn và quy định cụ thể. Những nỗ lực này sẽ khuyến khích các tổ chức tài chính lồng ghép các mối quan tâm về môi trường vào các hoạt động cho vay, đầu tư và quản lý rủi ro.

Hơn nữa, việc giải quyết những thách thức trong cơ cấu thị trường sẽ không chỉ nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng tài chính xanh mà còn thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa thị trường trái phiếu xanh trong nước và quốc tế. Sự tích hợp này sẽ không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi kiến thức và chuyển giao công nghệ mà còn mở ra những con đường mới cho sự đổi mới và phát triển trong lĩnh vực tài chính xanh.

Những biện pháp này, khi được thực hiện một cách chu đáo, chắc chắn sẽ đưa Việt Nam hướng tới một tương lai kinh tế xanh hơn, bền vững hơn, thúc đẩy hợp tác toàn cầu và nâng cao vị thế của quốc gia trên con đường hướng tới nền kinh tế ít carbon, thân thiện với môi trường.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Lên đầu trang
Top